Tập trung phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du, miền núi Bắc Bộ

Để triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị, Tỉnh ủy Bắc Kạn đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW với nhiều giải pháp thiết thực, phù hợp với điều kiện của địa phương.

Theo đó, việc triển khai Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cần quyết liệt, đồng bộ với thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương và Tỉnh ủy.

Trong đó, xác định rõ vai trò, nhiệm vụ và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện nhằm phấn đấu đến năm 2030, tăng trưởng GRDP bình quân đạt trên 7,5%. Cụ thể, dịch vụ tăng trên 8%/năm; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trên 3,5%/năm; công nghiệp - xây dựng tăng trên 11%/năm. Cơ cấu kinh tế khu vực dịch vụ chiếm khoảng 54%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm khoảng 20%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm khoảng 24%; thuế sản phẩm khoảng 2%. GRDP bình quân/người theo giá hiện hành đạt trên 93 triệu đồng. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt trên 2.000 tỷ đồng. Tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 40%; có 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Tỷ lệ thất nghiệp hằng năm dưới 3%...

Tập trung phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du, miền núi Bắc Bộ ảnh 1
Chú trọng xây dựng các tuyến đường giao thông liên kết vùng. Ảnh: Nâng cấp tuyến đường nội thị thị trấn Yến Lạc (Na Rì).

Đến năm 2045, tỉnh Bắc Kạn có nền kinh tế năng động, mức phát triển khá so với cả nước; phát triển đô thị và nông thôn theo hướng xanh, hiện đại và bền vững. Bản sắc văn hóa các dân tộc được bảo tồn và phát huy; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng cao; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo vững chắc.

Triển khai thực hiện các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, xã hội tập trung quán triệt nội dung Nghị quyết số 11-NQ/TW, Chương trình hành động của Chính phủ và của Tỉnh ủy đến cán bộ, đảng viên và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ.

Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị đổi mới tư duy phát triển và đẩy mạnh quyết tâm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh về liên kết vùng, quan hệ đối ngoại, cơ chế chính sách đặc thù, phân bổ nguồn lực; phát huy tối đa hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Phối hợp chặt chẽ với cơ quan thông tấn, báo chí để tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết và Chương trình hành động thực hiện nghị quyết.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và đa dạng các hình thức, phương thức truyền thông, tạo nhận thức sâu sắc về cơ hội, thách thức, cũng như tiềm năng, lợi thế của tỉnh và vị thế mới của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ.

Tập trung hoàn thiện các quy hoạch, kết cấu hạ tầng, liên kết với các tỉnh trong vùng trung du và miền núi Bắc Bộ phù hợp với quy hoạch phát triển của vùng và quy hoạch tổng thể quốc gia. Ưu tiên phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông, viễn thông đồng bộ, hiện đại và thông minh.

Tăng cường phối hợp, hợp tác, trao đổi thông tin với các cơ quan Trung ương, các địa phương khác trong vùng. Tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng các tuyến đường giao thông trong giai đoạn 2021 - 2025 đảm bảo chất lượng, hiệu quả. Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải sớm đầu tư hoàn thành tuyến cao tốc Chợ Mới - TP. Bắc Kạn. Nghiên cứu đề xuất đầu tư các tuyến đường trong giai đoạn tiếp theo, nhất là tuyến cao tốc thành phố Bắc Kạn - Cao Bằng.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phát triển nhanh, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số vào phát triển kinh tế để rút ngắn khoảng cách tăng trưởng với các tỉnh trong vùng.

Tập trung phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du, miền núi Bắc Bộ ảnh 2
Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa, sản xuất an toàn, hữu cơ, xanh, sạch, đặc sản; hình thành vùng chuyên canh với quy mô thích hợp; dựa trên các chuỗi giá trị sản phẩm bản địa, chủ lực OCOP... có thế mạnh của tỉnh.

Công nghiệp phát triển nâng cao giá trị gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường, trọng tâm là công nghiệp chế biến, chế tạo và năng lượng; xây dựng mối liên kết bền vững giữa ngành công nghiệp với nông nghiệp, dịch vụ.

Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ và thương mại theo hướng nâng cao chất lượng và đa dạng hóa. Đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng gắn với bảo vệ môi trường; giữ gìn, phát huy, bảo tồn các giá trị di sản, văn hóa của địa phương. Ưu tiên bố trí nguồn lực để lập quy hoạch các khu du lịch trọng điểm; phát triển và quảng bá các sản phẩm du lịch chủ đạo, có thế mạnh của tỉnh. Đầu tư, phát triển Khu du lịch Ba Bể, hồ Nặm Cắt, khu, cụm du lịch tại các địa phương trong tỉnh kết nối với khu, cụm du lịch, di tích lịch sử văn hóa của các tỉnh trong vùng và khu vực.

Giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, chủ động phòng ngừa và đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hóa mọi âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ, kích động biểu tình của các thế lực thù địch. Tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị; phát huy truyền thống văn hóa, cách mạng, sự cần cù và ý chí tự lực, tự cường của Nhân dân trên địa bàn tỉnh./.

Phan Quý

Xem thêm