Nỗ lực đạt mục tiêu trong “Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020"

Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2010 - 2020 của tỉnh Bắc Kạn tập trung nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, từng bước giải quyết các vấn đề vê cơ cấu dân số, mất cân bằng giới tính khi sinh, duy trì mức sinh thấp, hợp lý, góp phần nâng cao chất lượng nguồn lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước... Để đạt được kết quả đạt nói trên, tỉnh đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức.

Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2010 - 2020 của tỉnh Bắc Kạn tập trung nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, từng bước giải quyết các vấn đề vê cơ cấu dân số, mất cân bằng giới tính khi sinh, duy trì mức sinh thấp, hợp lý, góp phần nâng cao chất lượng nguồn lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước... Để đạt được kết quả đạt nói trên, tỉnh đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức.

Giải pháp nào để đến năm 2020 tỉnh đạt được mục tiêu chiến lược đã đề ra, phóng viên báo Bắc Kạn đã có cuộc trao đổi với đồng chí Nông Văn Kiếm, Chi cục trưởng Chi cục Dân số  về vấn đề này.

P.V: Xin đồng chí cho biết Chi Cục Dân số tỉnh đã thực hiện công tác tham mưu, phối hợp như thế nào để thực hiện hiệu quả Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020.

Đồng chí Nông Văn Kiếm:

Để thực hiện có hiệu quả Chiến lược Dân số, Chi cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình đã tham mưu cho Sở Y tế và UBND tỉnh ban hành Kế hoạch hành động thực hiện "Chiến lược Dân số và Sức khoẻ sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020" tỉnh Bắc Kạn, giai đoạn 2011 – 2015; tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức được Hội nghị triển khai Kế hoạch hành động của tỉnh giai đoạn 2011 – 2015; phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tuyên truyền tại Hội nghị báo cáo viên tuyên giáo toàn tỉnh về bản kế hoạch hành động của tỉnh; chỉ đạo Trung tâm DS-KHHGĐ các huyện, thị xã tham mưu cho UBND huyện ban hành và tổ chức Hội nghị triển khai Chương trình hành động của các huyện thị (đã có 3 đơn vị ban hành chương trình hành động đó là Bạch Thông, Pác Nặm, Ngân Sơn).

P.V: Những thách thức cơ bản của vấn đề dân số hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn là gì, thưa đồng chí?

Đồng chí Nông Văn Kiếm:

Bên cạnh những thành tựu đạt được trong Chiến lược Dân số/KHHGĐ giai đoạn 2001 - 2010, những thách thức cơ bản hiện nay là mức sinh không ổn định, nguy cơ tăng sinh trở lại là rất lớn: Từ năm 2009 đến nay mức sinh liên tục tăng (2009 là 1,84 con/phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ; năm 2010 là 1,85 con, 2011 là 1,91 con; Năm 2012 khả năng sẽ cao hơn). Do đó cần tiếp tục thực hiện nhiệm vụ duy trì mức sinh thấp hợp lý. Tỷ số giới tính khi sinh tăng nhanh vượt giới hạn bình thường... Đây là những thách thức đặt ra cho chương trình dân số hiện nay và những năm tiếp theo. Đặc biệt hiện nay, chất lượng dân số của tỉnh Bắc Kạn còn rất thấp, đến nay vẫn chưa có các giải pháp hữu hiệu để cải thiện tình hình.

P.V: Để đạt được mục tiêu của Chiến lược từ nay đến năm 2020 ngành dân số tập trung vào những hành động và giải pháp gì ?

Đồng chí Nông Văn Kiếm:

Để mục tiêu Chiến lược Dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020 trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đạt được yêu cầu đề ra cần tập trung vào ba giải pháp lớn. Một là tuyên truyền vận động thực hiện chính sách dân số - KHHGĐ, trong đó có vận động chính sách, vận động xã hội, truyền thông thay đổi hành vi đến mọi đối tượng- đặc biệt là người dân vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người. Hai là nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản/kế hoạch hoá gia đình. Ba là xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về DS-KHHGĐ.

Đặc biệt Chi cục Dân số sẽ đề ra những hành động cụ thể như: Sớm ổn định tổ chức bộ máy cấp xã, giao biên chế DS-KHHGĐ và tuyển dụng cán bộ dân số xã thành viên chức nhà nước như các tỉnh bạn. Hiện nay cả nước còn 15/63 tỉnh thành phố chưa thực hiện công tác này, trong đó có Bắc Kạn. Công tác tuyền thông cần tập trung vào những vấn đề ưu tiên của Kế hoạch hành động đã đề ra như mất cân bằng giới tính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số, duy trì mức sinh thấp hợp lý. Quan tâm công tác cung cấp các dịch vụ sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình đối với vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Đồng thời, ngành đẩy mạnh công tác ruyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi về Dân số - SKSS/KHHGĐ. Mở rộng và kiện toàn mạng lưới cung cấp dịch vụ Dân số-SKSS/KHHGĐ. Xây dựng và mở rộng dịch vụ tư vấn, kiểm tra sức khoẻ tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh và sơ sinh. Hoàn thiện phương thức cung cấp dịch vụ Dân số-KHHGĐ cho các nhóm đối tượng đặc thù. Hoàn thiện hệ thống hậu cần. Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách về dân số và sức khoẻ sinh sản. Xã hội hóa, phối hợp liên ngành. Đào tạo, nghiên cứu khoa học, thông tin số liệu và tài chính…

P.V: Xin cảm ơn đồng chí

Hồng Hạnh

(thực hiện)

Xem thêm