Lúng túng trong quản lý đất hoàn thổ tại Na Rì

10:00, 17/06/2016

Sau hơn 3 năm thực hiện quyết định về thu hồi đất mỏ vàng sa khoáng Nà Làng, Ao Tây thuộc xã Lương Thượng và mỏ Lạng San, xã Lạng San (Na Rì) giao cho địa phương quản lý và xây dựng phương án sử dụng đất, đến nay cả hai xã vẫn chưa giao đất cho người dân, trong khi bà con đang thiếu đất sản xuất.

Xác định hiện trạng thực tế diện tích đất thu hồi

Theo báo cáo UBND huyện Na Rì, toàn bộ diện tích mỏ trên địa bàn 2 xã Lương Thượng và Lạng San sau khi có quyết định thu hồi bàn giao cho 2 xã quản lý là 527.492m2, trong đó xã Lương Thượng 370.861m2 (2 mỏ), xã Lạng San là 158.831m2. Trước đây, toàn bộ diện tích đất thu hồi của hộ gia đình, cá nhân phía đơn vị khai thác đã thoả thuận thống nhất bồi thường đầy đủ, không có đơn thư thắc mắc. Sau khi hết hạn khai thác các đơn vị đã lập thủ tục đóng cửa mỏ, bàn giao đất cho tỉnh theo quy định.

Trong khi xã chưa giao đất, một số hộ dân đã tự phân định ranh giới để canh tác, xây dựng chuồng trại chăn nuôi, tại xã Lương Thượng có khoảng 30 hộ, xã Lạng San có 8 hộ. Đầu năm 2016 tại khu vực mỏ Nà Làng, xã Lương Thượng có hộ gia đình còn xây dựng nhà, chuồng trại chăn nuôi có quy mô.

sadewf
Khu vực mỏ Nà Làng, xã Lương Thượng một số hộ dân đã lấn chiếm và xây dựng công trình trên đất.

 

Mỏ Ao Tây và Nà Làng, sau hoàn thổ có mặt bằng, người dân đã tự thống nhất với nhau về ranh giới để canh tác. Mong muốn của người dân tại thôn Nà Làng là đề nghị xã giao lại đất cho 51 hộ dân, tại khu vực mỏ Ao Tây là 19 hộ dân. Đồng chí Nông Thiêm Pha- Chủ tịch UBND xã Lương Thượng cho biết: Hiện nay chỉ giới ngoài diện tích thu hồi là rất lớn, xã đang bắt đầu triển khai công việc đo đạc địa chính để xác định lại toàn bộ diện tích, vị trí tại khu vực mỏ Ao Tây. Việc đo đạc lại hiện trạng có thay đổi so với diện tích giao về cho xã quản lý. Nguyên nhân là do quá trình hoàn thổ đổ đất đá gây sạt lở diện tích gần bờ sông.

Tại mỏ Lạng San, thuộc khu vực chợ cũ, sau khi dừng hoạt động diện tích đất thu hồi là 158.831m2 bao gồm cả diện tích mặt hồ. Tuy nhiên, việc hoàn thổ mỏ tại đây mới chỉ được 9,3ha (khu vực mỏ). Sau thời gian thu hồi, xã chưa có phương án giao đất hay quản lý cụ thể. Tuy vậy đã có 5-6 hộ dân lấn chiếm đất, 1 hộ sinh sống tại đây đã được xã giao cho quản lý, dùng những hồ nước này để kinh doanh nuôi cá.

Theo chính quyền xã Lạng San, việc giao đất cho người dân sử dụng là hết sức khó khăn bởi xã cũng không thể xác định được đối tượng nào sẽ được giao đất. Hầu hết các hộ dân trước đây có đất tại khu vực này đã được nhận đền bù từ phía các đơn vị khai thác mỏ. Nếu chia đều cho các hộ cũng không có căn cứ. Trên cơ sở đó, xã Lạng San xây dựng 3 phương án giao đất một là cho thuê, đấu thầu, hai là chia cho người dân, ba là giữ lại để sử dụng vào vào xây dựng các công trình của xã. Theo ông Hoàng Đức Quyết- cán bộ địa chính xã Lạng San thì khó khăn lớn nhất trong việc giao đất cho các hộ dân là hiện bản đồ địa chính xã chưa thể hiện lô, thửa, kinh phí đo đạc và đối tượng nào sẽ được hưởng.

 Người dân thiếu đất sản xuất

Tại khu vực mỏ Lạng San, thuộc thôn Chợ Cũ (chợ Tân An) thôn có 35 hộ dân. Theo bà con, cả thôn chỉ 6 hộ có đất sản xuất, còn hầu hết canh tác ở các khu vực nhỏ lẻ không tập trung và các thôn nằm trong khu vực mỏ gồm Bản Kén, Phiêng Ban, Khau Lạ, Chợ Mới. Ông Hoàng Văn Thạch, trưởng thôn Chợ Cũ cho biết: Cả thôn diện tích đất ruộng chưa đầy 1ha, diện tích ngô là 2ha. Cả khu vực mỏ sau khi hoàn thổ để hoang hơn 3 năm, nếu giao cho bà con đồng thời đầu tư mương dẫn nước vào sẽ cấy được 2 vụ lúa và ngô.

sdewf
Nhiều diện tích đất bị bỏ hoang tại khu vực mỏ Lạng San.

 

Năm 2006, khi thực hiện việc di dời từ khu vực mỏ ra nơi ở mới, 11 hộ dân thôn Chợ cũ được cấp một nền nhà với diện tích 250m2 đất ở, không có đất sản xuất, mỗi hộ phải nộp thêm 3 triệu đồng. Bà con cho biết từ đó đến nay các hộ này chưa nhận được khoản đền bù hỗ trợ nào khác.

 

Tập trung xây dựng phương án quản lý đất đai hiệu quả

Trước tiên phải xác định đây là toàn bộ diện tích đất được Nhà nước thu hồi của hộ gia đình, cá nhân nay được bàn giao về cho địa phương quản lý. Việc xây dựng phương án giao đất cho các đối tượng sử dụng đất tại các xã nhằm đưa đất vào sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, ổn định, không để hoang hoá, tránh tình trạng tranh chấp, lấn chiếm phục vụ cho công tác quy hoạch.

Huyện Na Rì đã xây dựng phương án giao đất tại các khu mỏ trên cơ sở giao cho các xã có diện tích đất khu vực mỏ đã được bàn giao, đồng thời hướng dẫn cấp xã tiến hành thu thập, tổng hợp các tài liệu liên quan để làm căn cứ khi giao đất cụ thể như bản đồ giải thửa đo đạc năm 1964-1965, bản đồ địa chính tỷ lệ 1/1.000 đo đạc năm 2005, bản đồ trích đo địa chính thu hồi và giao cho thuê đất khai thác, bản đồ hiện trạng sau hoàn thổ và các tài liệu liên quan  như sổ mục kê, sổ dã ngoại… Đồng chí Nguyễn Đình Lai- Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Na Rì cho biết: Căn cứ các Quyết định của tỉnh, huyện, Phòng chủ động tham mưu cho UBND huyện về công tác quản lý đất đai đồng thời phối hợp với chính quyền 2 xã Lương Thượng và Lạng San tháo gỡ khó khăn trong thực hiện giao đất. Đối với 2 xã Lương Thượng và Lạng San, chính quyền tiếp tục thông báo đến các chi bộ thôn, yêu cầu các hộ dân không tự ý chiếm dụng đất khu mỏ để canh tác hoặc làm thay đổi hiện trạng. Đối với các hộ vi phạm, cán bộ chuyên môn cần đến hiện trường kiểm tra đo đạc diện tích cụ thể, xác định vị trí trên bản đồ, lập biên bản giữ hiện trạng.

Có thể nói, sau hơn 3 năm từ khi có quyết định thu hồi và giao đất tại khu vực các mỏ thuộc 2 xã Lương Thượng và Lạng San đến nay, chính quyền địa phương của 2 xã còn lúng túng khi xây dựng phương án giao đất để quản lý sử dụng có hiệu quả. Bên cạnh đó, việc quản lý cũng như xử lý chưa nghiêm dẫn đến tình trạng người dân tự ý sản xuất, xây dựng các công trình trái phép trên đất công. Công tác tuyên truyền, tổ chức họp dân chưa được tiến hành tích cực. Thiết nghĩ, các cấp chính quyền của 2 xã cần nỗ lực tập trung, sớm hoàn thành công tác giao đất. Bố trí giao đất hợp lý đối với các hộ thiếu đất sản xuất. Có phương án quy hoạch cụ thể đối với quỹ đất của địa phương để xây dựng các công trình phúc lợi xã hội./.

Nguyễn Nghĩa